BỆNH XUẤT HUYẾT DẠ DÀY LÀ GÌ ?

Trong các nhóm bệnh về đường tiêu hóa thì viêm loét dạ dày – tá tràng đứng hàng đầu, viêm loét dạ dày tá tràng tuy không nguy hiểm tới tính mạng nhưng nếu không được phát hiện và điều trị dứt điểm bệnh gây ra những biến chứng vô cùng nguy hiểm như xuất huyết dạ dày, ung thư dạ dày.

 

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

1. Nguyên nhân

  • Xuất huyết dạ dày thường xảy ra sau khi bệnh nhân uống rượu, vô tình hoặc cố ý uống phải dung dịch acid hoặc kiềm, stress căng thẳng quá độ, dùng một số thuốc giảm đau chống viêm (aspirin, corticoid, thuốc chống đông máu)
  • Xuất huyết dạ dày cũng có thể gặp trên bệnh nhân có bệnh lý tăng áp lực tĩnh mạch cửa do xơ gan, ung thư dạ dày, Do các bệnh máu như Bệnh bạch cầu, Bệnh suy tuỷ xương, Bệnh máu chậm đông, Bệnh máu chảy lâu, xuất huyết giảm tiểu cầu: một số bệnh máu do những cơ chế khác nhau có thể chảy máu ở nhiều nơi: chân răng, mũi, dưới da, ruột, niêm mạc dạ dày…

2. Triệu chứng

  • Đau dữ dội vùng thượng vị, sau lan khắp bụng, bụng cứng, toát mồ hôi, bệnh nhân bị tái xanh, nôn ra máu, đi ngoài phân đen…
  • Nôn ra máu là triệu chứng điển hình. Trước khi nôn, người bệnh thấy nôn nao. Khó chịu, lợm giọng, buồn nôn và nôn. Có khi nôn ra rất nhiều và nhanh chóng không dấu hiệu báo trước. Máu có thể còn tươi nếu máu chảy ra được nôn ngay. Máu đen lẫn máu cục và thức ăn vì máu chảy ra còn đọng ở dạ dày một thời gian mới nôn ra. Chất nôn có màu nâu, hồng: khi máu chảy ít đọng lại lâu trong dạ dày, bị hoà loãng và thay đổi bởi dịch dạ dày và thức ăn.
  • Đại tiện phân đen. Phân đen như bã cà phê, mùi khẳm do máu đã được tiêu hóa một phần. Trường hợp chảy máu nhiều, phân thường loãng, có nước màu đỏ xen lẫn với phân lổn nhổn đen mùi khắm. Nếu chảy máu ít hơn, phân vẫn thành khuôn, màu đen giống nhựa đường, mùi khắm.

3. Biến chứng

  • Nếu nhẹ, máu chảy ra ít, khoảng vài chục đến vài trăm mililit khối. Người bệnh chỉ thấy hơi mệt mỏi, không có thay đổi rõ rệt về toàn trạng, mạch, huyết áp.
  • Nếu lượng máu ra nhiều trong một thời gian ngắn sẽ xuất hiện tình trạng mất máu cấp tính: Chóng mặt, hoa mắt, Vã mồ hôi, lạnh chân tay, da niêm mạc nhạt, Mạch nhanh nhỏ, khó bắt, Huyết áp hạ, Thở nhanh, có khi sốt nhẹ, Đái ít, có khi vô niệu, có khi nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.
  • Chảy máu ít nhưng kéo dài: tuy không gây nên tình trạng mất máu cấp tính nhưng dẫn đến tình trạng thiếu máu: da niêm mạc nhợt nhạt, nhọc mệt, suy tim do thiếu máu…

4. Điều trị

Sơ cứu tại chỗ: Giữ bệnh nhân nằm yên trên giường ở tư thế đầu thấp chân cao, sinh hoạt ngay tại giường. Nếu cần, ủ ấm cho bệnh nhân.

Dùng các phương pháp cầm máu (chỉ huyết) bằng:

  • Tây y: Phức hợp prothrombin cô đặc, cryoprecipitate, huyết thanh tươi đông lạnh, Acid tranexamic, Acid aminocaproic
  • Đông y: cỏ mực, ngò ôm, ngải cứu, diếp cá, huyết dj đỏ… Đông y quy chứng này về Vị quản thống thể Huyết ứ, Phép trị là chỉ huyết, bổ huyết, thông lạc hoạt huyết.
HÃY ĐẶT CÂU HỎI NGAY ĐỂ NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHÚNG TÔI

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai.